Hiển thị các bài đăng có nhãn khám phá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khám phá. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011

Sự thật về "người phụ nữ lai gấu"

Sự thật về "người phụ nữ lai gấu"

Người lai phi thường", "mụ đàn bà gấu", "người phụ nữ xấu xí nhất thế giới"... là những biệt danh người ta gán cho người phụ nữ này.

Các nhà nghiên cứu cùng thời cho rằng bà là con lai giữa con người và loài đười ươi, họ tin rằng họ đã phát hiện ra mối liên hệ đã mất. Và không chỉ ngoại hình mà câu chuyện về cuộc đời người phụ nữ này cũng khác biệt nhất trong lịch sử.

Người phụ nữ "độc nhất vô nhị"

Người ta cho rằng Julia Pastrana sinh ra trong một bộ tộc châu Mỹ sinh sống ở những mạn sườn miền Tây của Mexico. Không ai biết về những năm tháng đầu đời của bà cho đến lần đầu tiên bà xuất hiện trước công chúng là năm 1834, khi được dẫn ra và giới thiệu tại Gothic Hall trên đường Broadway.

Trong mắt của công chúng, Julia Pastrana thực sự đã có một màn ra mắt thật ly kì. Thân thể bà phủ đầy lông lá, khuôn mặt cũng đầy lông như vậy. Trên khuôn mặt lông lá ấy, một bên hàm nhô ra, nướu răng trương phồng lên vì thế chúng đẩy hàm răng và xô chúng lộ ra ngoài. Những điều đó càng làm tăng tính kỳ quái cho sự xuất hiện.

Với chiều cao khoảng 1,3m, có thể nói bà trông giống một con khỉ đặc biệt hơn là một người con gái. Nhưng bà có lòng tự trọng đáng kính. Đứng trước hàng ngàn khán giả, Julia nhẹ nhàng nhìn xuống và cất lên những lời hát với chất giọng đẹp nhất. Bà hoàn toàn nhận thức được thực tế rằng mình là sự khác biệt, nhưng đã sử dụng những điều khác biệt đó và sức mạnh cá tính của mình để vượt qua số phận.

Julia Pastrana được cho là lai gấu.

Sau khi chuyển đến Cleveland cùng với ông bầu mới, Julia bắt đầu tạo được sự lôi cuốn và làm kinh ngạc khán giả bằng sự duyên dáng của mình. Bà bắt đầu gây được tiếng vang, thậm chí còn được mời đến biểu diễn trong những buổi hội họp quan trọng và những hội diễn của quân đội. Không lâu sau, bà bắt đầu thực hiện chuyến du lịch vòng quanh nước Mỹ.

Lúc bấy giờ nước Anh trở nên hết sức quan tâm và quảng bá Julia trên những tờ báo lớn. Công chúng bắt đầu gọi bà là "Con người bí ẩn" tương tự như cách chúng ta dùng để gọi những gì mà ngày nay chúng ta vẫn chưa thể giải thích nổi. Báo giới không có cách nào thu thập được đầy đủ thông tin về bà và họ đã vô cùng kinh ngạc khi biết được rằng Julia không chỉ là một nữ ca sĩ có tiếng mà bà còn có thể sử dụng thành thạo một số ngôn ngữ khác nhau, bao gồm tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh.

Không thể vượt lên số phận
Lúc bấy giờ bà được ông Theodore Lent, người trở thành nhà quản lý, đã giúp bà tập luyện khiêu vũ và biểu diễn trên sân khấu. Bà đã cố gắng hết sức để nổi tiếng trên sân khấu hơn là một con quái vật như họ vẫn dùng để ám chỉ những con người như bà. Sau khi được tiếp đón nồng hậu ở London, Julia bắt đầu thực hiện chuyến lưu diễn tới thủ đô Berlin nước Đức, nơi đây đã tạo ra những thay đổi lớn trong sự xuất hiện của bà, từ những buổi biểu diễn kỳ dị cho tới hình ảnh của một cô đào hát trên sân khấu. Lần đầu tiên bà xuất hiện trong vở kịch có sự pha trộn giữa một câu chuyện tình và hài kịch mang tên Der Curierte Meyer.
 

Lúc bấy giờ bà nhận được rất nhiều lời cầu hôn. Điều này khiến ông Lent nhận ra rằng nếu không muốn đánh mất "kho báu" thì chỉ còn cách là chính ông phải lấy Julia. Vào năm 1857 họ cưới nhau, và cho dù Julia thường xuyên xuất hiện bên cạnh nhưng ông ta luôn đối xử với bà như một món hàng và ngày càng nhiệt tâm trong việc khai thác. Khi đang thực hiện chuyến lưu diễn xuyên suốt từ Hà Lan sang Nga thì Julia nhận ra mình đã có thai. Ngày 20/3/1860, Julia sinh đứa con trai đầu lòng, một đứa trẻ mình đầy lông lá và chỉ sống được 35 tiếng đồng hồ. Chỉ năm ngày sau cái chết của đứa con trai đầu lòng, Julia cũng giã từ cõi đời.

Đến chết vẫn chưa được yên thân
Những tưởng sau khi qua đời, Julia sẽ được mai táng một cách trang trọng và sẽ được đối xử như một quý bà như bà đã từng. Nhưng điều đó đã không xảy ra khi chồng của bà không dễ dàng bỏ qua tiềm năng trong việc kiếm tiền từ vợ, dù chỉ còn là một tử thi. Lent bán thi thể của bà và đứa con trai cho một vị giáo sư thuộc trường đại học Moscow. Ông này mổ tử thi rồi ướp xác họ để trưng bày trong bảo tàng của trường đại học, nơi họ có thể thu hút được nhiều khách tham quan nhất.

Thế nhưng đó chưa phải là hồi kết. Lent nhận lợi dụng sự phẫn nộ của công chúng, kiện lên tòa án để có thể mang thi thể bà quay về. Và ông đã thắng kiện. Năm 1862 Julia được ông chồng khốn nạn đưa về Anh và thêm một lần nữa bị đem ra trưng bày, làm nhục. Thi thể của Julia chỉ được khoác lên một bộ đầm khiêu vũ. Đứa con trai đầu lòng của bà được mặc một bộ đồ thủy thủ, người ta đặt cậu lên một cái bệ để làm vật trưng bày như họ đã làm với người mẹ xấu số kia.



Hàng nghìn người hiếu kỳ kéo đến và chỉ phải trả một đồng si-linh để có thể tận mắt trông thấy xác người phụ nữ đáng thương cùng đứa con trai của mình.Thi thể Julia được di chuyển xoay vòng từ trường đại học đến bảo tàng. Cuối cùng khi không còn mấy người đến xem những cái xác, Lent đem tử thi của bà cho một người mang về cho ông lợi nhuận cao nhất thuê lại. Nhưng mọi chuyện vẫn chưa dừng ở đó.

Thật kỳ lạ, Lent lại kết hôn với một phụ nữ khác trông rất giống Julia và sau một thời gian sinh sống, ông buộc mọi người phải tin rằng người vợ mới của ông chính là em gái của Julia. Ông gọi bà này là Zenora Pastrana. Sau đó không lâu, ông ta mang thi thể bà của Julia theo chuyến du lịch cùng với người vợ mới cưới của mình. Cuối cùng, Lent cùng cô dâu mới đến ẩn cư tại Saint Peterburg (Nga) và mở cửa tiệm trong một bảo tàng đúc tượng người bằng sáp.

Về sau, Lent đột ngột bị chứng suy nhược thần kinh và cuối cùng phải vào điều trị trong một viện điều dưỡng tâm thần trong thị trấn. Chẳng bao lâu sau, ông giã tữ cõi đời. Zenora, người vợ mới của ông, tiếp tục mang cái xác theo chuyến du lịch của mình. Cuối cùng, bà đi lấy một người đàn ông trẻ hơn rất nhiều. Kể từ đó cho tới mấy thập niên sau thi thể của Julia lúc ẩn lúc hiện.

Trong một cái hòm, thi thể của Julia và đứa con trai chưa đầy tháng của mình đã bị chuyển từ người này sang người khác, từ nước này sang nước khác như một món hàng. Mãi cho tới một ngày năm 1976, cái kho được cho là hết sức an toàn đang cất giữ thi thể bà bị đột nhập và phá hủy. Thi thể đứa trẻ bị xé thành những mảnh rời. Thi thể của Julia lại được chuyển đi và sau đó những chuyện như trên lại tiếp tục xảy ra.

Cuối cùng vào năm 1990, thi thể của Julia được tìm thấy dưới tầng hầm của Học viện pháp lý y khoa ở Oslo, Na Uy. Hiện giờ cái xác vẫn được lưu lại đó. Hiện nay, với lòng trắc ẩn và ý thức đạo đức, chúng ta đã nhận ra rằng bà không chỉ có ngoại hình lạ lùng mà còn là một người phụ nữ đầy lòng tự trọng và đức hạnh. Không ít người hy vọng một ngày nào đó không xa, bà sẽ được mai táng một cách trang trọng, và một bức tượng sẽ được dựng lên để chỉ cho tất cả chúng ta thấy rằng: Đây là người phụ nữ của sự can trường.

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

Cận cảnh những "hóa thạch sống"

Cận cảnh những "hóa thạch sống"
Mặc dù gần như mọi loài vật đều tiến hóa để thích nghi với môi trường mới, một vài loài động vật giữ nguyên hầu như không thay đổi từ giai đoạn trứng nước của lịch sử tiến hóa. Người ta gọi đó là các loài "hóa thạch sống".

Nhiều loài hóa thạch sống cổ xưa hơn cả những loài có vú; một số loài còn tồn tại trước cả thời đại khủng long. Cùng nhìn cận cảnh những loài động vật hầu như không thay đổi qua hàng triệu năm và vẫn tiếp tục sinh sống ở dạng sống thấp ngày nay.

1. Rái mỏ vịt


Rái mỏ vịt là một động vật có lông thú đẻ trứng, có mỏ chứa chất độc. Charles Darwin đã dùng thuật ngữ “hóa thạch sống” cho loài này khi quan sát chúng. Rái mỏ vịt sinh sống ở phía đông nước Úc, là loài động vật duy nhất trong họ Ornithorhynchidae. Nhóm động vật này được cho là đã tách ra khỏi lớp động vật có vú 166 triệu năm trước đây.

2. Cua móng ngựa


Cua móng ngựa có thể giữ kỷ lục là loài động vật già nhất trên thế giới vẫn còn tồn tại ngày nay. Xuất hiện từ thời kỳ Đại Cổ sinh, cua móng ngựa đã tồn tại trên trái đất trước cả khủng long và đã sống sót qua nhiều sự kiện đại tuyệt chủng. Năm 2008, một hóa thạch cua móng ngựa cổ nhất được tìm thấy có niên đại 445 triệu năm trước đây, theo báo cáo của tờ LiveScience.

3. Tôm nòng nọc


Tôm nòng nọc là một địch thủ cho danh hiệu động vật sống cổ xưa nhất. Loài tôm này có họ hàng với cua móng ngựa. Theo báo cáo của Telegraph, tôm nòng nọc ngày nay giống hệt với hóa thạch mẫu có niên đại trước thời kỳ khủng long xuất hiện khoảng 200 triệu năm. Tôm nòng nọc hiện nay nằm trong danh sách động vật có nguy cơ tuyệt chủng.

4. Cá vây tay


Đã từng được cho là tuyệt chủng trong cùng sự kiện đại tuyệt chủng của khủng long 65 triệu năm trước, cá vây tay đã gây nên tranh cãi về chuyện liệu rằng loài này đại diện một nhánh còn thiếu giữa động vật biển và động vật trên cạn bốn chân. Theo National Geographic, loài động vật này được tìm thấy lại vào năm 1938 và chỉ có hai loài cá vây tay còn sống ngày nay. Năm 2007, một hóa thạch cá vây tay được tìm thấy có niên đại khoảng 400 triệu năm.

5. Rùa táp


Rùa táp đã bước lên mặt đất cách đây 40 triệu năm trước nhưng chúng hoàn toàn không thay đổi trong suốt 215 triệu năm tiến hóa, theo trang Tortoise Trust.

6. Cá sấu


Hơn 20 loài cá sấu và cá sấu Mỹ ngày nay đã tiến hóa từ khoảng 320 triệu năm trước, tuy nhiên, những đặc điểm thể chất cơ bản của loài bò sát này hầu như giữ nguyên suốt 320 triệu năm qua. Cá sấu và cá sấu Mỹ có chung tổ tiên, mặc dù hai nhóm này tách nhau ra khoảng 60 triệu năm trước.

7. Ốc anh vũ


Ốc anh vũ là loài động vật thân mền nguyên sinh nhất còn tồn tại, một nhóm bao gồm cả mực và bạch tuộc. Có nguồn gốc từ nửa tỉ năm trước, ốc anh vũ đạt đến đỉnh điểm tiến hóa vào thời Đại Cổ sinh khoảng 505 triệu đến 408 triệu năm trước. Vài loài ốc anh vũ ngày nay vẫn tồn tại, không thay đổi gì mấy so với những những thủy tổ.

8. Cá mập yêu tinh


Cá mập yêu tinh là cư dân đại dương hiếm, có mũi dài độc nhất giúp phân biệt chúng với các loài cá mập khác. Chúng xuất hiện khoảng 112 đến 124 triệu năm trước đây. Khoảng 200 hóa thạch các loài cá mập khác nhau đã tìm thấy, theo Trung tâm nghiên cứu Cá mập ReefQuest. Loài cá mập cổ xưa nhất sống trước khủng long khoảng trên 200 triệu năm.

9. Gián


Gián là loài vật nổi tiếng vì khả năng tồn tại của nó. Những con côn trùng này có thể sống sót trong vòng nhiều tuần sau khi mất đầu, thậm chí chúng có thể sống sót qua vụ nổ bom nguyên tử. Gián cũng là loài tồn tại lâu đời. Gián đã xuất hiện trên Trái đất cách đây khoảng 320 triệu năm, với khoảng 5 đến 10 triệu loài gián có hình dạng, kích cỡ và môi trường sống khác nhau. Bức hình này thể hiện loài gián Blaberus, một trong những loài gián khổng lồ nhất.

10. Cá mút đá


Cá mút đã được các nhà khoa học miêu tả đầu tiên vào thế kỷ 18, tuy nhiên loài động vật biển xấu xí này đã tồn tại từ khoảng nửa tỉ năm trước đây. Cá mút đá cũng đại diện cho một bước tiến hóa quan trọng. Loài cá cổ xưa này có lẽ là một trong những động vật đầu tiên tiến hóa mắt phức giống máy camera hơn là mắt kém cảm quang như các loài nguyên thủy hơn. Như thế, cá mút đá đại diện cho một nhánh khuyết trong quá trình tiến hóa mắt động vật.

11. Nai chuột


So với các loài động vật hóa thạch sống khác, nai chuột có lẽ là một "đàn em non trẻ" hơn. Tuy nhiên, nó lại là loài động vật tương đối cổ xưa so với các loài có vú. Loài vật này là một trong những loài vú có móng tồn tại từ 35 triệu năm trước đây, và tất nhiên chúng không thay đổi gì từ khi xuất hiện.