Hiển thị các bài đăng có nhãn tuyệt chủng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tuyệt chủng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011

Lỗi kỹ thuật giết hàng loạt ốc sên quý hiếm

Lỗi kỹ thuật giết hàng loạt ốc sên quý hiếm

Các nhà bảo tồn người New Zealand cho biết một lỗi kỹ thuật đã khiến 800 con ốc sên đất quý hiếm (được xếp vào loài có nguy cơ tuyệt chủng cao) bị đông lạnh cho đến chết.


Loài ốc sên đất khổng lồ có tên gọi Powelliphanta (ảnh) chỉ có tại New Zealand. Vài năm trước, do nhu cầu khai thác một mỏ than trên cao nguyên Stockton nên người ta đã di dời 6.000 cá thể ốc Powelliphanta qua môi trường sống mới. 4.000 trong số đó được trả lại môi trường tự nhiên, số còn lại được nuôi nhốt vừa để nghiên cứu khoa học vừa nhằm bảo tồn để tránh thảm họa tuyệt chủng.

John Lyall, nhân viên quản lý kỹ thuật cho biết đám ốc sên được nuôi nhốt trong 3 container. Một thiết bị thăm dò nhiệt độ bị hỏng đột ngột khiến nhiệt độ giảm xuống quá thấp và làm chết 800 con ốc sên.

Theo BBC, tai nạn này làm cho một số nhà môi trường không hài lòng và chỉ trích việc nuôi nhốt động vật hiếm thay vì để chúng sống trong môi trường tự nhiên. Đầu tiên là “ngôi nhà” của chúng trên cao nguyên Stockton bị phá hủy để khai thác mỏ than còn lần này thì chúng bị chết trong điều kiện nuôi nhốt. Để tránh tình trạng này tái diễn, các hệ thống cảnh báo đã được lắp đặt để thường xuyên giám sát.

Nhiều loài mèo quý hiếm ở Indonesia có thể tuyệt chủng

Nhiều loài mèo quý hiếm ở Indonesia có thể tuyệt chủng
Những con mèo quý hiếm ở Indonesia đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng vì nạn phá rừng, Quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF) công bố hôm qua.

Mèo rừng châu Á là một trong năm loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. (Ảnh: WWF)

WWF khảo sát ở Bukit Tigapuluh đã chụp lại hình ảnh những con mèo quý hiếm trước nguy cơ tuyệt chủng tại khu rừng ở đảo Sumatra, Indonesia, nơi diện tích rừng đang suy giảm nghiêm trọng như mèo rừng châu Á, mèo vằn cẩm thạch, mèo vàng và mèo rừng.

Chúng được tìm thấy trong một hành lang rừng không được bảo vệ ở giữa rừng Bukit Tigapuluh và nơi trú ẩn của động vật hoang dã Rimbang Baling ở tỉnh Riau, Indonesia. Khu vực này đang bị đe dọa phá rừng để trồng cây công nghiệp.

"Bốn trong số năm loài mèo đang được bảo vệ theo quy định của chính phủ Indonesia và được liệt kê vào danh sách những loài có nguy cơ tuyệt chủng trong sách đỏ của Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN)", Karmila Parakkasi, điều phối viên của Nhóm nghiên cứu hổ WWF - Indonesia nói trên Livescience.

Cuộc khảo sát này kéo dài 3 tháng dọc theo hành lang rừng ở Indonesia để sưu tầm 404 bức ảnh về những con mèo hoang.

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

Linh dương quý hiếm châu Phi có nguy cơ bị tuyệt chủng

Linh dương quý hiếm châu Phi có nguy cơ bị tuyệt chủng

Hirola, loài linh dương châu Phi cực quý hiếm, hiện đang được xếp vào nhóm cực kỳ nguy cấp của Liên minh Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên.

Đây là lần đầu tiên trong 75 năm, sau khi chó sói Thylacinus (hay còn gọi là Tasmania) bị tuyệt chủng vào năm 1936, một chi động vật có vú tiếp tục đối mặt với nguy cơ biến mất hoàn toàn, trừ khi những nỗ lực bảo tồn được thực hiện thành công.

Số lượng Hirola đã giảm 90% kể từ năm 1980 do việc săn bắn trái phép tràn lan. Trong cuộc khảo sát mới nhất, chỉ còn 245 con phân bố rải rác ở các vùng đông bắc Kenya, tây nam Somalia. Ước tính chỉ còn khoảng 400 con Hirola sinh sống ở châu Phi.


Hirola, loài linh dương châu Phi cực quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.

Các nguyên nhân khác khiến số lượng Hirola suy giảm một cách nhanh chóng có thể kể đến như hạn hán, săn bắn thiếu kiểm soát, ô nhiễm môi trường…

Vài năm trước đây, Cộng đồng bảo tồn Hirola, Ishaqbini (Kenya) đã dành một khu đất rộng khoảng 3.200 hecta để bảo vệ Hirola, chủ yếu bằng việc theo dõi khu vực có bị xâm phạm hay không và hạn chế vật nuôi ăn cỏ. Hầu hết những người chăn nuôi sống dọc biên giới Kenya đều thân thiện với động vật hoang dã.

Bên cạnh đó, trong những năm qua, số lượng Hirola đã giảm 15% vì bị các loài động vật ăn thịt khác tấn công. Trước tình hình này, thị tộc Ishaqbini đang cho xây dựng hàng rào chống động vật ăn thịt, rộng khoảng 2.400 hecta, nằm trong khu vực bảo tồn Hirola.

Tim Tear, Giám đốc Ủy ban bảo tồn thiên nhiên châu Phi tỏ ra lạc quan: “Tôi muốn ý thức bảo tồn động vật hoang dã sẽ phát triển ra các vùng lân cận, đồng thời số lượng động vật sẽ được tăng lên. Thế hệ trẻ cần giáo dục để chúng có thể sử dụng một cách khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai. Mọi người nghe rất nhiều về tình trạng tuyệt chủng, đặc biệt là ở châu Phi. Nếu tất cả cùng cố gắng, vẫn có hi vọng cho Hirola".

Yêu động vật (Theo Bee)

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

Cảnh sát quốc tế quyết tâm bảo vệ hổ

Cảnh sát quốc tế quyết tâm bảo vệ hổ

Tổ chức Cảnh sát Quốc tế (Interpol) sẽ triển khai một dự án nhằm phối hợp nỗ lực bảo vệ hổ của 13 nước trên thế giới.


Hai con hổ Bengal. Ảnh: tumblr.com.
Trong phiên họp hôm qua tại Hà Nội, Interpol công bố nội dung dự án bảo vệ hổ mang tên Predator.

Ông David Higgins, giám đốc chương trình Tội phạm Môi trường của Interpol, nói rằng sự tuyệt chủng của loài hổ chẳng những tác động tiêu cực tới đa dạng sinh học, mà còn gây nên bất ổn chính trị và kinh tế tại những nước mà chúng sinh sống. Theo ông, các cộng đồng, quốc gia sẽ mất lòng tin vào chính phủ của họ nếu loài hổ biến mất và khả năng lãnh đạo của chính phủ phải thể hiện qua việc bảo vệ các loài động vật như hổ.

Predator được triển khai nhằm điều phối hoạt động của cảnh sát, lực lượng hải quan và các cơ quan bảo vệ thiên nhiên tại 13 nước có hổ - bao gồm Bangladesh, Bhutan, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Nepal, Nga, Thái Lan và Việt Nam.

Với sự tài trợ của Mỹ, Anh và Ngân hàng Thế giới, dự án Predator cũng sẽ chia sẻ thông tin với các cơ quan bảo tồn trên thế giới để nâng cao nhận thức của người dân.

Ông Higgins nhấn mạnh rằng thực thi luật pháp không phải là giải pháp hiệu quả nhất trong nỗ lực bảo vệ hổ. Vì thế các chính phủ nên tập trung hơn nữa vào hoạt động giáo dục ý thức của người dân và giảm nghèo.

Số lượng hổ hoang dã giảm rất mạnh trong vòng 100 năm qua do nạn săn bắt trộm và sự thu hẹp môi trường sống. Khoảng 100.000 con hổ tồn tại trên hành tinh vào năm 1900, song hiện nay số lượng của chúng chưa tới 3.500, Interpol cho biết. Người ta săn hổ để lấy da, xương và các bộ phận khác trong cơ thể chúng. Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế cảnh báo hổ có nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2022 nếu con người không bảo vệ chúng.

Thiếu tướng Vũ Hùng Vương, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm, nói rằng Việt Nam có ít nhất 110 con hổ, trong đó 80 con sống trong môi trường nuôi nhốt.

“Chúng tôi đã phát hiện nhiều vụ buôn lậu hổ từ Thái Lan qua Lào, Myanmar, Việt Nam để sang Trung Quốc. Chúng tôi cần sự phối hợp từ cảnh sát tại các nước khác để bảo vệ động vật hoang dã, đặc biệt là hổ”, thiếu tướng nói.

Kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 80 của Interpol diễn ra tại Hà Nội từ ngày 31/10 tới 3/11. Đại diện của lực lượng cảnh sát 188 nước tham dự kỳ họp.

Phận tê giác xứ mình!

Phận tê giác xứ mình!

Trong khi tê giác Java tại Việt Nam bị săn bắn trộm dẫn đến tuyệt chủng thì tại Indonesia, đàn tê giác đã tăng lên 60 con.

Tháng 4 năm 2010, con tê giác Java – loài động vật cực kỳ quý hiếm đang trên đà tuyệt chủng trên thế giới được phát hiện chết dưới một vũng bùn tại Vườn Quốc gia Cát Tiên. Ban đầu, người ta hùng hồn khẳng định rằng con tê giác này chết… tự nhiên.
Mãi khi các tổ chức quốc tế tới kiểm tra, khám nghiệm, phát hiện một viên đạn còn mắc lại trong bộ xương, những người có trách nhiệm phải thừa nhận: Tê giác Java tại Việt Nam chết là do bị bắn.

Và mới đây, dù đã lường trước nhưng dư luận vẫn bàng hoàng, sửng sốt khi tổ chức WWF tuyên bố loài tê giác Java tại Việt Nam đã chính thức tuyệt chủng.


Tê giác Java tại Việt Nam đã tuyệt chủng.
 
Còn nhớ cách đây chưa lâu, tôi gặp GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hội động vật học Việt Nam tại cuộc Hội thảo Quản lý tổng hợp rừng đầu nguồn sông Đồng Nai – Trường hợp thủy điện Đồng Nai 6 và 6A tại Vườn Quốc gia Cát Tiên, ông cho biết trong lịch sử, loài tê giác Java đã từng có địa bàn phân bố khá rộng suốt từ Trung Quốc trải qua vùng rừng núi các nước trong khu vực Đông Nam Á sang Ấn Độ. Tuy nhiên, những năm gần đây, trên thế giới, loài tê giác này chỉ còn ghi nhận ở hai nơi: Vườn quốc gia Cát Tiên của Việt Nam và một số đảo ở Indonesia. Đây là loài đông vật cực kỳ quý hiếm đang có nguy cơ biến mất trên thế giới.

Lúc đó, tôi chợt nhận thấy trên nét mặt GS. Đặng Huy Huỳnh ánh lên những nét đầy tự hào. Cũng dễ hiểu, bởi các nhà động vật học trên thế giới biết tới Việt Nam là nhờ hình ảnh những con tê giác Java được phát hiện tại Vườn Quốc gia Cát Tiên. Tuyên bố Việt Nam có một quần thể tê giác Java tại Vườn Quốc gia Cát Tiên đã gây chấn động giới động vật học trên thế giới. 

 


Voi Beckham tại Đà Lạt bị sát hại để lấy ngà và đuôi
 

Cũng theo GS. Huỳnh, tại Việt Nam, vào những năm 1970 – 1980, theo tính toán của các nhà động vật học, Vườn quốc gia Cát Tiên có khoảng 17 – 18 con tê giác. Sau năm 1990, tê giác Java tại đây chỉ còn 7 - 10 con. Năm 1997, các nhà khoa học ghi nhận khu vực này chỉ còn từ 3-7 con. Vào tháng 4/2010, một bộ xương tế giác Java được phát hiện trong tình trạng bị bắn chết tại Vườn quốc gia Cát Tiên đã làm dấy lên mối lo ngại trong suốt hàng chục năm qua loài động vật này luôn bị săn bắn. Từ đó tới nay, người ta cũng luôn nói tới chuyện đó. Nhưng Việt Nam đã không còn tê giác Java.

Tôi còn nhớ lắm nét mặt buồn thiu của GS. Đặng Huy Huỳnh khi ông so sánh công tác bảo tồn tê giác Java tại Việt Nam và Indonesia. Trong khi tê giác Java tại Việt Nam đang bị săn bắn trộm dẫn đến tuyệt chủng thì  việc bảo vệ loài động vật này được Indonesia làm rất tốt. Thống kê mới đây cho thấy, tê giác Java tại Indonesia đã tăng từ 40 con vào năm 1998 lên 60 con hiện nay.


Từ khi tổ chức WWF tuyên bố loài tê giác Java tại Việt Nam đã tuyệt chủng không hiểu sao tôi lại cứ nghĩ tới loài voi. Ừ thì voi khó mà tuyệt chủng, ừ thì voi có khắp nơi trên thế giới, không hiếm hoi như tê giác, ừ thì voi nhà còn tới mấy chục con nhưng biết đâu...

Chỉ trong một thời gian ngắn, đàn voi nhà ở Đắk Lắk bị giảm sút một cách nghiêm trọng, từ 502 con năm 1980 xuống còn 166 con năm 1998 và hiện chỉ còn 56 con. Trong khi đó, Chi Cục kiểm lâm Đắk Lắk cảnh báo nếu cứ đà này, trong vòng 20-25 năm nữa, đàn voi nhà ở Đắk Lắk có nguy biến mất. Nguyên nhân chủ yếu là do các chủ voi bắt voi làm việc quá sức, trong khi chế độ chăm sóc không đảm bảo, khả năng sinh sản hạn chế, lại luôn bị kẻ xấu rình rập sát hại để trộm ngà và đuôi.

Trước thực trạng trên, từ năm 2006, Thủ tướng đã có công văn chỉ đạo các cơ quan liên ngành tỉnh Đắk Lắk phải tìm ra các phương án bảo vệ voi khẩn cấp. Đến năm 2007, UBND tỉnh Đắk Lắk mới giao cho Sở Thương mại - Du lịch Đắk Lắk (cũ) lập dự án bảo tồn đàn voi nhà. Tuy nhiên, Sở này lại không có chuyên môn gì về công tác bảo vệ và phát triển đàn voi, nên đến năm 2008, UBND tỉnh Đắk Lắk lại phải bàn giao cho Chi Cục kiểm lâm làm lại từ đầu.

Mãi đến cuối năm 2009, dự án của Chi Cuc kiểm lâm mới ra đời. Theo đó, Trung tâm bảo tồn voi rộng 200ha tại Vườn Quốc gia Yoók Đôn sẽ được thành lập, xây dựng một bệnh viện dành riêng cho voi, có chính sách hỗ trợ người nuôi voi, giúp voi sinh sản…

Thế nhưng, dự án có vốn đầu tư 58 tỷ đồng để khôi phục và phát triển đàn voi này vẫn nằm đâu đó trên bàn giấy, trong khi đàn voi rừng liên tiếp bị sát hại, còn voi nhà dường như bị bỏ mặc.

Tôi không gọi cho GS  Đặng Huy Huỳnh để hỏi về việc Việt Nam đã không còn tê giác. Tôi vẫn luôn nhớ nét buồn trên khuôn mặt ông. Chỉ biết cầu mong, ai đó sẽ làm cho  "phận voi" Việt Nam tốt đẹp hơn?

Thứ Hai, 31 tháng 10, 2011

Hổ quý chết do “dính” bẫy thòng cổ

Hổ quý chết do “dính” bẫy thòng cổ

Các chuyên gia động vật hoang dã cho biết, xác hổ Siberia quý hiếm được phát hiện hôm 27/10/2011 ở hồ chứa nước làng Fusheng, tỉnh Hắc Long Giang, có thể bị chết do vô tình mắc bẫy thòng lọng làm bằng dây thép của các thợ săn.

Theo ông Sun Haiyi-Phó giám đốc Viện nghiên cứu Động vật hoang dã, “con hổ này có thể vô tình mắc kẹt trong bẫy thòng dây thép của các thợ săn”.

Các chuyên gia động vật hoang đang điều tra nguyên nhân cái chết của con hổ quý

Sun là người đã cùng các đồng nghiệp tới ngôi làng để tiến hành điều tra cái chết của con hổ Siberia quý hiếm. Qua kiểm tra sơ bộ, các chuyên gia đã phát hiện ra những vết rỉ ở dây thòng thép quấn quanh cổ của con hổ đã được một thời gian.

Cái bẫy thòng này không làm hổ chết ngay lập tức, nhưng nó có thể ảnh hưởng tới việc hổ ăn và săn mồi, dẫn đến cái chết của nó.

Và phát hiện thấy một dây thòng thép vòng quanh cổ hổ đã bị rỉ

Xác hổ đã được gửi cho tổ chức nghiên cứu động vật hoang dã vào tối thứ Sáu (28/10/2011) để các chuyên gia tiếp tục khám nghiệm tử thi.

Các chuyên gia cũng xác nhận, đây là con hổ Siberi hoang dã 2 tuổi, đã được phát hiện ở gần hồ nước ở làng Fusheng vào ngày 17/10/2011. Các nhân chứng cho biết, lúc đó con hổ vẫn còn sống và bơi lội trong hồ.

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2011

10 loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng

10 loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng

Tê giác Java một sừng, loài vừa được tuyên bố là tuyệt chủng ở Việt Nam, là một trong 10 loài có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới.

Theo WWF, tê giác Java ở vườn quốc gia Cát Tiên được phát hiện đã chết với vết đạn bị bắn vào chân và cái sừng biến mất vào tháng 4 năm ngoái. Loài tê giác một sừng Java tuyệt chủng ở Việt Nam. Hiện loài này vẫn còn một số cá thể và đang được bảo tồn ở Indonesia. Ảnh: WWF/AP.

Chim gõ kiến mỏ ngà. Loài này sống ở Nam Mỹ. Chúng có thể đã tuyệt chủng do mất môi trường sống. Ảnh: PA.

Báo Amur sống trong những khu rừng tuyết ở vùng viễn đông Nga. Các nhà khoa học cho rằng, chúng hiện chỉ còn 40 con do nạn săn trộm và khai thác gỗ. Ảnh: WWF.

Còn khoảng 100 con vượn tre lớn sinh sống ở Madagascar. Chúng đang bị đe dọa bởi nạn săn bắt của con người và mất đi môi trường sống. Ảnh: AP.

Chỉ còn khoảng 350 con cá voi lưng thẳng ở biển Atlantic. Ảnh: Alamy.

Khỉ đột núi. Còn khoảng 700 con vẫn còn sống ở phía đông Trung Phi. Loài này đang trên bờ tuyệt chủng do chính sách bất ổn của chính phủ nước này. Ảnh: AP.

Rùa luýt. Số lượng loài rùa lớn nhất thế giới này đang suy giảm ở mức báo động. Nguyên nhân là do con người lấy trứng của chúng đẻ trên bờ biển, còn tổ của chúng bị mất do bờ biển xói mòn. Ảnh: Alamy.

Hổ Siberia. Loài này sống ở vùng băng tuyết nước Nga. Số lượng của nó chỉ còn 40 con vào thập kỷ 1930 do bị săn bắn. Sau đó số lượng của loài tăng lên 500 con nhưng chúng vẫn đang bị đe dọa bởi nạn săn bắn của con người. Ảnh: Alamy.

Kỳ giông khổng lồ ở Trung Quốc. Chúng dài tới 1,8m, đang dần tuyệt chủng do môi trường sống bị ô nhiễm nặng. Ảnh: Alamy.

Hải cẩu Hawaii còn ít hơn 1.000 con. Các nhà khoa học chưa giải thích vì sao số lượng của chúng lại suy giảm. Ảnh: AP.


Ngày tận thế của 250 triệu năm trước

Ngày tận thế của 250 triệu năm trước

250 triệu năm trước, một tiểu hành tinh đã va chạm Trái đất, đồng thời với sự dịch chuyển của lớp vỏ trái đất. Nhiều loài trên Trái đất đã bị tuyệt diệt để rồi sự sống lại hồi sinh vụ thảm sát khủng khiếp đã xảy ra, một tội ác ghê gớm nhất mà hành tinh đã từng chứng kiến, và điều đáng nói hơn là đó lại chính là một trong những yếu tố đầu tiên giúp chúng ta có mặt trên thế giới này.

Ảnh minh họa

Chúng ta vẫn thấy quen thuộc với thảm họa tuyệt chủng 65 triệu năm trước vào cuối kỉ Creta (Phấn trắng), gây ra sự tuyệt chủng của các loài khủng long thống trị Trái Đất thời đó. 

Nhưng thực tế, một thảm họa thật sự của thời cổ đại lại không phải vụ tuyệt chủng này mà là một sự kiện hoàn toàn khác, như một tội ác đẫm máu nhất trong lịch sử của hành tinh, đóng một vai trò rất lớn tới sự phát triển sự sống trong hàng trăm triệu năm, trong đó có cả sự thống trị rồi tuyệt chủng của khủng long, cuộc lên ngôi của các động vật có vú và cả nhân loại chúng ta ngày nay. Đó là cuộc đại tuyệt chủng Permi (hay Permi-Trias, Permian-Triassic great extinction).

Tuyệt diệt các loài...

Đại tuyệt chủng Permi diễn ra vào cuối kỉ Permi cách đây 250 triệu. Cuộc đại tuyệt chủng đã xóa sổ 95% số loài động vật tồn tại dưới đại dương và hơn 70% số loài trên mặt đất. Trái Đất khi đó không khác gì địa ngục như những cảnh tượng tưởng như chỉ có trên phim ảnh chỉ một chút nữa là sự sống đã biến mất vĩnh viễn trên hành tinh này và chúng ta sẽ chẳng bao giờ được ra đời. Trong rất nhiều năm các nhà khoa học không cách nào để tìm hiểu được nguyên nhân thực sự của sự kiện khủng khiếp này.

Có nhiều ý kiến tranh luận trong các nhà khoa học, có ý kiến cho rằng một thiên thạch khổng lồ (hay một tiểu hành tinh) với kích thước lớn hơn cả ngọn Everest đã va chạm với Trái Đất hủy diệt các loài sinh vật (khác với vụ va chạm 65 triệu năm trước), cũng có ý kiến cho rằng sự tuyệt chủng hàng loạt xảy ra kéo dài trong vài triệu năm, nên nó phải là kết quả của một quá trình dài chứ không phải là một vụ va chạm duy nhất, thậm chí còn có giả thuyết rằng đó là hậu quả của bức xạ đến từ một vụ nổ supernova (sao siêu mới/siêu tân tinh). Nhưng sự phát triển của các mô hình ngày nay dựa trên hóa thạch xác các loài động thực vật đã thu gọn khoảng thời gian của cuộc đại tuyệt chủng chỉ từ 8.000 đến 100.000 năm thay vì vài triệu năm như tính toán trước kia.

Trái Đất hơn 200 triệu năm trước với siêu lục địa duy nhất Pangaea

Chúng ta thấy rằng con số này chỉ là một cái chớp mắt đối với lịch sử địa chất hơn 4 tỷ năm của Trái Đất. Như vậy có nghĩa là cuộc tàn sát diễn ra rất nhanh, hoàn toàn có khả năng là do một va chạm từ thiên thạch hoặc tiểu hành tinh. Tuy nhiên đây vẫn chỉ là những suy đoán lý thuyết, để đưa ra một kết luận thì bằng chứng vẫn là không thể thiếu.

...và thủ phạm

Các nhà khoa học đã tìm thấy sâu bên trong các mẫu đá hiếm hoi còn lại từ thời Permi-Trias các phân tử gọi là fullerene. Đây là các tinh thể carbon gần giống than chì, có cấu tạo tinh thể giống như một quả bóng đá như bạn thấy ở hình dưới. Bên trong các tinh thể này có dấu vết của nguyên tử Heli3 và Argon36. Đây là những đồng vị rất khó tìm được trên Trái Đất, nó chỉ phổ biến ở các thiên thạch đến từ vũ trụ. Đây là một bằng chứng khá thuyết phục về việc một tiểu hành tinh đã va chạm với Trái Đất vào cuối kỉ Permi. 

Vấn đề đặt ra là, có vẻ như tiểu hành tinh chỉ là kẻ đồng lõa trong vụ thảm sát này, hay có thể là một tác nhân quan trọng thúc đẩy những nghi phạm khác. Các đồng lõa của tiểu hành tinh này chính là sự dịch chuyển của các mảng thạch quyển và sự phun trào của núi lửa trên Trái Đất.

Động thực vật kỉ Permi

Khác với thời điểm hiện nay, vào thời kì của đại cổ sinh Paleozoic, Trái Đất chúng ta có hai lục địa lớn là Laurasia và Gondwana. Trước hết xin nói qua về các chuyển động của vỏ Trái Đất:
Chúng ta đều biết rằng trong lòng Trái Đất là khối dung nham khổng lồ, như một dòng sông của lửa và đá nóng chảy, còn bề mặt Trái Đất nơi chúng ta sinh sống chỉ là một lớp đá rắn mỏng nằm trên đó, giống như lớp băng trên mặt biển các vùng cực. Do chuyển động của các dòng biển nên lớp băng không thể luôn bền vững, một số chỗ bị nứt vỡ, chúng có thể trôi và va chạm với nhau khi có tác động mạnh như các dòng chảy bên dưới hay đơn giản là một va chạm do con người tạo ra phía trên. Lớp vỏ Trái Đất cũng như vậy, nó gồm nhiều mảnh vỡ nổi trên biển dung nham. Mặc dù các mảnh thạch quyển này có khối lượng rất lớn và xếp khá khít nhau nhưng không có nghĩa là chúng không có những rung chuyển, va chạm, ngay những núi lửa bình thường lâu ngày lại phun trào cũng chính là do những vết nứt vỡ trên vỏ Trái Đất tạo nên.

Ở kỉ Permi, lớp vỏ Trái Đất biến động dữ dội, các mảng thạch quyển khổng lồ rung chuyển, nứt vỡ, di chuyển và va chạm. Hai lục địa Laurasia và Gondwana tiến tới gần nhau và hợp nhất thành siêu lục địa Pangaea (lục địa duy nhất trên Trái Đất khi đó). Sự hợp nhất này gây ra một cú va chạm khủng khiếp, sự nứt vỡ xảy ra hàng loạt, một khối lượng dung nham khổng lồ bị nén lại và phun trào lên mặt đất. 

Theo con số tính toán của các nhà khoa học hiện nay, lượng dung nham đã được ném lên bên trên bề mặt hành tinh chúng ta khi đó là khoảng 1,5 triệu km³. Đây là một con số khổng lồ đến mức khó tưởng tượng vì một thông tin khác bạn cũng nên biết là những núi lửa ghê gớm nhất từng phun trào trong lịch sử loài người cũng khó có thể phun ra tới 1 km³ dung nham, vậy thì chuyện gì sẽ xảy ra nếu có tới 1,5 triệu ngọn núi lửa như vậy cùng phun trào khắp nơi trên mặt đất?

Cả hành tinh là một biển lửa không gì có thể dập tắt. Bụi và khí carbonic tràn ngập trong không khí phủ kín bầu trời gây ra hiệu ứng nhà kính làm không khí càng nóng thêm. Dưới đại dương, các dòng hải lưu thay đổi và nhiều hệ sinh thái biến mất do sự di chuyển và va chạm lục địa. Toàn bộ quá trình này là hệ thông các nguyên nhân gây ra cuộc đại tuyệt chủng tàn khốc nhất lịch sử.

Hồi sinh

Khi tiểu hành tinh lao vào Trái Đất cùng các va chạm lục địa xảy ra, một phần loài bò sát, ca và đa số các loài côn trùng khổng lồ bị tiêu diệt, chính là điều kiện để một số nhóm bò sát phát triển thành loài khủng long, chúng lên ngôi trở thành kẻ thống trị hành tinh thật sự trong suốt hơn 150 triệu năm.

Không chỉ thế, sự thay đổi này cũng đã tạo điều kiện cho những tổ tiên xa xôi nhất của chúng ta tồn tại và phát triển, dù chỉ luôn là những kẻ chạy trốn trong thế giới của khủng long nhưng ít nhất các loài động vật có vú này vẫn có thể tồn tại chờ tới thời khắc của mình, trong khi nếu như không có sự kiện đại tuyệt chủng thì những sinh vật nhỏ bé như tổ tiên xa xưa này của chúng ta chẳng thể sống được ở một thế giới của đủ những kẻ thù từ lớn tới nhỏ, không chỉ bò sát, cá mà cả những con côn trùng khổng lồ.

Sau hơn 150 triệu năm thống trị của loài khủng long, một lần nữa lại một triều đại sụp đổ, và đó chính là thời khắc của các tổ tiên động vật có vú.

Nếu nhìn dọc lịch sử phát triển Trái Đất, chúng ta thấy rằng mỗi cuộc tuyệt diệt đều mang lại những giá trị quan trọng của nó.
Cây cối chết hàng loạt ở kỉ Carbon (còn gọi là kỉ than, 300 triệu năm trước) tạo nên những mỏ than đá cho chúng ta ngày nay, cá chết hàng loạt trong thảm họa đại tuyệt chủng Permi cung cấp nguồn dầu mỏ khổng lồ mà ngày nay chúng ta không thể thiếu ... Chúng ta cũng thấy rằng thiên thạch/tiểu hành tinh và các núi lửa luôn là những kẻ dường như nắm quyền sinh sát trên hành tinh này.

Chính những cuộc tấn công của thiên thạch từ 4 tỷ năm trước đã mang những chất hữu cơ đầu tiên đến Trái Đất để những dạng sống đầu tiên ra đời. Mỗi khi núi lửa phun trào đều gây ra thảm họa cho sinh vật, nhưng chính nó đã cứu hành tinh vào thời kì đóng băng toàn cầu 850 triệu năm trước (khác với kỉ băng hà 12.000-100.000 năm trước), nhưng rồi nó lại cùng với một tiểu hành tinh quay trở lại thành kẻ hủy diệt vào đại tuyệt chủng Permi, cũng là đáng sáng thế cho một thế hệ sinh vật mới. Và khi triều đại của khủng long đã kéo dài đủ lâu, những thế lực này một lần nữa sắp xếp lại tất cả, để kết quả cuối cùng là chúng ta ngày nay.

Thảm họa Permi, cũng như nhiều cuộc tuyệt chủng nhỏ hơn khác, chỉ là một tai nạn và những "thủ phạm" nêu trên đã vô tình gây ra, và trên một góc độ nào đó, nó còn là cơ hội mang lại sự sống và văn minh ngày nay chúng ta đang tận hưởng. Tuy nhiên, trong triều đại của chính chúng ta thì sẽ chẳng có ai mong có một sự biến chuyển như vậy xảy ra, và đó là lí do ngày nay các nhà khoa học vẫn không nhừng quan sát và dự đoán, để ngăn chặn những kẻ tàn sát tiếp theo có thể một ngày sẽ tới thăm Trái Đất.

Việt Nam vĩnh viễn mất tê giác một sừng

Việt Nam vĩnh viễn mất tê giác một sừng

Loài tê giác một sừng (tê giác Java) đã chính thức tuyệt chủng tại Việt Nam. Thông tin này được Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) và Tổ chức Bảo tồn Tê giác Thế giới (IRF) khẳng định vừa mới đây.

“Thật đau buồn vì mặc dù đã đầu tư đáng kể cho các nỗ lực bảo tồn quần thể tê giác tại Việt Nam, song chúng ta vẫn không thể cứu được loài động vật quý hiếm này. Tê giác Java tuyệt chủng, Việt Nam nghiễm nhiên bị mất đi một phần di sản thiên nhiên của đất nước” – bà Trần Thị Minh Hiền, Giám đốc WWF Việt Nam, chia sẻ.


Cuối tháng 4/2010, xác một con tê giác Java đã được phát hiện tại vườn quốc gia Cát Tiên trong tình trạng đạn găm vào chân và sừng biến mất. Kết luận điều tra do WWF công bố hồi tháng 1 năm nay chỉ rõ nạn săn trộm có thể là nguyên nhân gây ra cái chết của cá thể tê giác nói trên.

Tê giác một sừng đã được cho là tuyệt chủng tại châu Á cho đến khi người ta săn được một cá thể tê giác trong khu vực Vườn Quốc gia Cát Tiên năm 1988, dẫn đến việc phát hiện ra một quần thể tê giác nhỏ. Từ sau đó, rất nhiều tổ chức đã tích cực tham gia bảo tồn quần thể tê giác cuối cùng còn sót lại, song không thành công.

Thừa nhận rằng, tại Việt Nam, mất môi trường sống là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kết cục tuyệt chủng tê giác một sừng, WWF cũng đồng thời cảnh báo, việc thực thi luật pháp chưa toàn diện và tình trạng quản lý các khu bảo tồn kém sẽ chỉ tăng thêm áp lực lên các quần thể loài dễ bị tổn thương.

“Thời gian qua, những nỗ lực bảo tồn tê giác Java tại Việt Nam vẫn chưa đủ mạnh để cứu loài ra khỏi nguy cơ tuyệt chủng. Nếu tình trạng ấy vẫn cứ tiếp diễn thì rất có thể sẽ có thêm nhiều loài khác tuyệt chủng tại Việt Nam”, ông Nick Cox, Quản lý Chương trình Loài của WWF tại khu vực Tiểu vùng Mê Kông, nhận định.

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2011

Theo dõi loài kỳ lân biển ở Bắc cực

Theo dõi loài kỳ lân biển ở Bắc cực

Thông tin trên trang mongabay.com cho hay một nhóm các nhà khoa học Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên tại Canada (WWF-Canada) đã gắn máy phát tín hiệu vệ tinh lên 9 con kỳ lân biển vào tháng 8-2011 nhằm theo dõi hoạt động sinh sống của một trong những loài động vật bí ẩn nhất của đại dương.


“Chương trình gắn máy phát tín hiệu vệ tinh lên loài kỳ lân biển là một cơ hội để chúng tôi hiểu rõ thêm về loài cá voi có răng này trong lúc môi trường xung quanh chúng có nhiều sự thay đổi. Chúng tôi biết cuộc sống của chúng thường gắn liền với băng biển và chúng tôi cũng biết hiện các biển băng đang thu hẹp lại.

WWF đang cố gắng tìm hiểu làm thế nào mà loài kỳ lân biển cũng như các động vật khác sống phụ thuộc vào băng ở Bắc cực có thể thích ứng với môi trường thay đổi; qua đó, chúng tôi sẽ có những biện pháp bảo vệ chúng” - ông Peter Ewins, làm việc tại WWF-Canada, người phụ trách việc nghiên cứu và theo dõi loài kỳ lân biển, cho biết.


Các nhà khoa học WWF-Canada gắn máy phát tín
hiệu vệ tinh lên một con kỳ lân biển - (Ảnh: WWF)

Kỳ lân biển (the narwhal - monodon monoceros) hay còn gọi cá voi có ngà thuộc phân họ cá voi có răng. Các nhà khoa học WWF cho biết hiện dân số loài này còn khoảng 80.000 cá thể trưởng thành, được phân loại ở mức “Sắp bị đe dọa (NT)” trong Sách đỏ của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN). Ngoài việc bị đẹ dọa bởi biển băng Bắc thu hẹp, kỳ lân biển còn gặp nguy hiểm khi va chạm với các giàn khoan thăm dò và khai thác dầu khí ở Bắc cực và với các tuyến đường hàng hải.

Nhân bản thành công 8 con sói Bắc Mỹ

Nhân bản thành công 8 con sói Bắc Mỹ

Thông báo của chính quyền địa phương tỉnh Gyeonggi của Hàn Quốc cho biết, nhà khoa học tế bào gốc Hàn Quốc Hwang Woo-suk đã nhân bản thành công giống chó sói Bắc Mỹ có nguy cơ tuyệt chủng.


Các con sói Bắc Mỹ nhân bản vô tính được gửi tặng tại trung tâm bảo
vệ động vật hoang dã Pyeongtaek, phía nam Seoul (Ảnh: dailymail)

Hiện 8 con chó sói Bắc Mỹ nhân bản vô tính đã được chuyển đến trung tâm bảo vệ động vật hoang dã ở Pyeongtaek, phía nam Seoul.

Hwang Woo-suk tiết lộ, ông đã nhân bản thành công 8 con sói Bắc Mỹ bằng cách chuyển nhân tế bào Soma (tế bào cơ thể) một con chó sói vào trứng của chó sói cái.


Con sói đầu tiên được sinh ra vào ngày 17/6/2005 tại Quỹ nghiên cứu công nghệ sinh học Sooam.

8 chó sói Bắc Mỹ này là những con chó sói Bắc Mỹ đầu tiên trên thế giới được nhân bản vô tính bằng cách sử dụng tế bào.

Hwang bắt đầu nổi tiếng khi ông cho đăng một bài khoa học công bố nghiên cứu thành công nhân bản vô tính tế bào gốc của con người vào năm 2004. Song đến tháng 11/2005, ông bị cáo buộc làm giả. Tới năm 2009, ông bị phạt án tù 2 năm vì tội biển thủ quỹ nghiên cứu và sai phạm đạo đức nghiên cứu. Tháng 12 năm ngoái ông được giảm xuống còn 18 tháng tù treo.


Tuy nhiên thành công của ông về nhân bản vô tính sói Bắc Mỹ vào năm 2005 đã được các chuyên gia và chính quyền địa phương xác thực.

Hiện tỉnh Gyeonggi đang lên kế hoạch tặng một số con sói Bắc Mỹ nhân bản vô tính cho các vườn thú ở nước ngoài trong một nỗ lực để góp phần bảo tồn các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng.

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

Ảnh: Xem chim cổ rắn săn mồi điêu luyện

Ảnh: Xem chim cổ rắn săn mồi điêu luyện

Chim cổ rắn là một loài chim ăn thịt, hiện đang có nguy cơ tuyệt chủng. Thức ăn chủ yếu của chúng là cá. Hãy cùng chiêm ngưỡng những khoảnh khắc săn mồi hiếm thấy của loài chim này.

Chim cổ rắn có thể bơi giống như một chiếc tàu ngầm với cả thân mình chìm dưới nước và cổ của nó chỉ nhô ra khi phát hiện thấy con mồi, rồi đâm phập vào mục tiêu của mình một cách đột ngột.

Cảnh tượng đáng kinh ngạc này được chộp lại bởi Alfred Forns – một nha sĩ 64 tuổi tới từ Florida.
 

Chim cổ rắn dùng chiếc mỏ dài và nhọn của mình đâm thẳng vào con mồi sau khi nó đuổi kịp.


Chim cổ rắn bắt cá ở một dòng sông gần Miami, Florida.


Loài chim ăn thịt này tung con mồi lên không trung...


...sau đó dùng mỏ chộp lấy nó rồi nuốt chửng.
 


Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2011

Hư thực chuyện rắn hổ mây chốn thâm u

Hư thực chuyện rắn hổ mây chốn thâm u

Những câu chuyện về rắn hổ mây nghe hư hư thực thực. Nào là chúng to lớn như thân cây, dài hàng chục mét, di chuyển như lướt trên ngọn cây, gây giông gió. Có nơi sợ hãi coi chúng là “ác xà” ăn thịt người. Có nơi xem là rắn chúa...

Rắn hổ mây và những câu chuyện... trên mây

Đại tự điển Việt Nam do Nguyễn Như Ý chủ biên có đề cập đến các kỳ hoa dị thú nhưng không thấy dòng nào nhắc đến hổ mây. Lên mạng, vào Google gõ thông tin truy tìm tên khoa học rắn hổ mây chỉ tìm được hổ mây gờ- được liệt vào sát thủ săn đêm, nhưng loài này so với hổ mây như anh tí hon bên gã khổng lồ.

Một con rắn hổ mây đen bị hạ sát

Rắn hổ mây là rắn quý hay rắn thường? Cho tới nay, câu trả lời vẫn bỏ ngõ như cuộc đời bí ẩn của chúng. Nhưng câu chuyện rợn người về hổ mây chốn rừng xanh từ bao đời qua luôn hấp dẫn nhân gian.

Chuyện hổ mây nóng lên khi ông Trần Quốc Diệp (ngụ ấp Xuân Hiệp, thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, An Giang) tung tin chạm mắt rắn hổ mây khổng lồ. Ông Diệp kể với nhiều người rằng, trưa ngày 8.9.2010, ông thấy một con rắn hổ mây dài trên 20m, nặng trên 400kg đang nằm thù lù trong lùm cây. Con rắn to thấy ông Diệp liền phùng mang rướn mình đuổi theo khiến ông chạy trối chết, sau đó đột ngột nó chui vào hang sâu mất tăm.

Ông Lê Thành Công, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Tịnh Biên, nghe chuyện cho rằng “lếu láo”, nói dóc mà không có căn dù thừa nhận trên vùng Bảy Núi có nhiều rắn to.

Ông Công lập luận: “Rắn to cỡ đó, hang nó ở gần khu dân cư chỉ vài trăm mét, bò ra bò vào khu dân cư thành bình địa luôn”. Theo ông Công, cái hang mà ông Diệp chỉ kiểm lâm kiểm tra lại là cái hố nông do mưa gió bào mòn thành miệng hố. Ông Công lý giải: “Ông Diệp nghiện rượu nên hôm đó có thể hoa mắt nhìn thấy rắn nhỏ thành rắn to”.

Trước đó, trên núi Cấm (Tịnh Biên) ngay suối Thanh Long, cũng có tin đồn đoán về có cặp rắn hổ mây đen trú trong hang sâu. Tin đồn rằng, một phụ nữ phương xa lên núi hành hương, tới gần hang rắn ngồi xuống rửa mặt. Bất thình lình, một cái đầu rắn bự như cái thúng từ dưới suối lừng lên đớp người phụ nữ lôi xuống hang. Những người chứng kiến kinh hồn nát vía ù té chạy. Những ông X., bà Y., cô H. thề sống thề chết từng bị rắn hổ mây rượt trối chết nhưng thoát nạn hy hữu luôn là câu chuyện chưa ai kiểm chứng.

Thần y Ba Lưới, tên tục Nguyễn Văn Y lên núi Cấm tu đạo lúc tuổi đôi mươi, cứu mạng nhiều người lâm bệnh ngặt nghèo hay rắn cắn trầm ngâm nói: “Núi Cấm ngày xưa “độc xà ác thú” ở rất nhiều, ở đây có cái hang người dân đặt tên hang ông Mây. Chuyện kể về rắn có cái đúng, có cái quá phóng đại. Còn rắn hổ mây to hàng trăm ký là có thật, tôi đã đánh chết hai con cỡ đó để tự vệ. Còn từ 40 năm trở lại đây không thấy rắn to nữa, có thể chúng bò qua núi Tà Lơn bên Campuchia tránh người”.

Nhưng ông Y cho rằng núi Cấm vẫn còn rắn hổ mây, không biết to hay nhỏ mà thôi. Gần đây, khi về đêm con chó săn tinh khôn của ông rút trong nhà nằm run lẩy bẩy, sủa đứt hơi. Ông Y nói chỉ có mùi rắn hổ mây và hổ mới làm chó khiếp sợ đến thế. Tuy vậy, ông Y vẫn điềm nhiên với loài rắn chúa này và lý giải người có cõi riêng của người, rắn có cõi riêng của rắn, đừng ai xâm phạm ai thì ổn.

Nhưng ông Nguyễn Văn Sơn- người mua ngọn núi Ông Két trên vùng Thất Sơn làm điểm du lịch vẫn tin rằng còn rắn to. Phía sau hậu sơn, ông Sơn cho xây cặp rắn hổ mây to bằng đá cứng để... trấn yểm hổ mây. Ông Sơn lý giải các hang động trên Bảy Núi ăn luồng nhau là nơi lý tưởng cho hổ mây trú thân.

Ông Sơn nói: “Người xưa đồn rắn hổ mây chỉ sợ loài to lớn hơn chúng. Nên cặp rắn tôi xây thật to, trên đầu có mồng như mồng gà, mắt đỏ rực. Để khi ban đêm mấy ông bò ra gặp cặp rắn giả sợ mà thoái lui”.

Những câu chuyện có thật

Vậy rắn hổ mây có còn hay đã biến mất theo thời đại? Nhiều thợ săn rắn cả quyết, rắn hổ mây vẫn còn ở vùng U Minh, Bảy Núi, Phú Quốc. Có điều chúng không to như chuyện ông bà kể. Đặc biệt Phú Quốc (Kiên Giang) là hòn đảo còn nhiều hổ mây trú thân.

Ông Trịnh Khắc Toản, Hạt phó Hạt kiểm lâm Phú Quốc, cho biết, hổ mây nó là loài cực độc trong họ rắn hổ. Gặp hổ mây tốt nhất là chạy, chạy càng nhanh càng tốt nếu không với một cú nhoài người nhanh như gió nó sẽ đưa con mồi vào hiểm địa với nọc độc kinh người.

Ông Toản nói cách đây 5 năm, ông đi rừng chạm mặt rắn hổ mây nặng hàng chục ký và may mắn chạy thoát. Rắn hổ mây dài như cây tre, thân thể dài ngoằng như vậy nên nhiều người tưởng lầm là hổ mây di chuyển bằng chót đuôi, kỳ thực chúng di chuyển bằng nửa thân sau.

Những người sống bằng nghề đi rừng ở Phú Quốc sợ nhất là đụng mặt rắn hổ mây, gặp rắn nhỏ có cơ may thoát nạn nhưng gặp loài rắn to từ 30kg trở lên phải tìm thầy thuốc rắn trị nọc độc. Ở Phú Quốc, có 2 loài rắn hổ mây đen và hổ mây vàng đều độc như nhau.

Dân đảo lý giải gọi là hổ mây vì chúng màu mốc vàng (hoặc đen) xen kẽ đốm trắng như trái mây, bụng vằn màu trắng sữa. Các cụ lão cho biết ngày xưa người dân vẫn gặp các loài rắn hổ mây to như thân cây ở Phú Quốc. Những con rắn lớn thuộc loại mãng xà như vậy có thân dài gần 20m, đầu có mồng như gà, chúng rít the thé như tiếng gà gáy. Người dân ví von hổ mây là “ẩn sĩ” vì rằng chúng chỉ xuất hiện chốn thâm u, hiếm khi xuất hiện chốn đồng bằng.

Ở Phú Quốc, có hai người săn thú từng chạm mắt hổ mây và sau đó đoạn tuyệt với nghề. Anh Nguyễn Văn Trường (35 tuổi ở Cửa Cạn) chuyên đi săn. Hôm đó, đang theo đuổi con mồi, thình lình anh nghe tiếng le te như gà gáy. Trường nghe ớn lạnh, bởi gà rừng nghe tiếng động đã lẩn trốn nên đoán ra đó là “hung thần rừng xanh” vội chạy thục mạng. Một con hổ mây đen lao tới và anh nghe buốt tay trái. Về tới nhà anh đổ gục, mình lạnh ngắt, người nhà vội đưa anh đi thầy cứu chữa.
Thoát khỏi tử thần Trường cạo đầu bỏ nghề đi săn. Còn ông Bảy Nam ở Bãi Vòng đi săn rắn bị hổ mây vàng rượt đuổi. Bầy chó săn tinh khôn nhào tới cắn rắn cứu chủ. Ông Bảy Nam thoát tai ách nhưng hai con chó săn tinh khôn không tìm được xác. Ông Nam bỏ nghề và thề không đụng đến miếng thịt chó.

Vì hổ mây sống trong rừng, bí hiểm nên dân gian đồn đoán mật rắn trị được bệnh kéo mây, máu rắn uống tăng cường tuổi thọ, trị dứt các bệnh kể cả bệnh ung thư. Và vì thế loài rắn độc này dù là cực độc vẫn bị săn bắt.

Ông P.- người cố cựu trên đảo cho biết, khi các cánh rừng sâu cạn nước, rắn hổ mây hay bò xuống các suối tìm nước nên bị người ta rình rập, săn gặp rắn nhỏ là đập chết. Rắn hổ mây có yếu điểm khi khát nước cháy họng là gục cổ xuống uống và người ta nhân lúc này dùng cây đập chúng gãy cổ hoặc gãy sống lưng.

Cũng có khi con rắn xấu số bò qua đường lộ và bị xe bốn bánh cán chết. Mới đây, 2 thanh niên lái xe tải cán trúng hổ mây chỉ còn thở thoi thóp, đã lượm rắn khâu miệng lại bỏ vào bao tải, thảy lên xe. Chở đi vài cây số thì kiểm lâm xuất hiện kiểm tra xe thu lại xác rắn và phạt 500.000đ do vận chuyển động vật hoang dã trái phép

Theo các cán bộ kiểm lâm, do 2 thanh niên đó vô ý cán chết rắn, nếu không có thể bị xử tội săn bắt động vật quý hiếm. Đó là con rắn hổ mây đen còn nhỏ nặng khoảng 5,6kg nhưng chiều dài đã hơn 3,1m.

Nơi rắn hay mò xuống uống nước là suối Tranh ấp Bãi Vòng. Cách đây không lâu, một nhóm người phát hiện con hổ mây vàng nặng khoảng 7kg đang gục đầu uống nước. Cuộc chiến giữa rắn và người xảy ra và con rắn bị hạ sát, ngay lập tức xác con rắn được tẩu tán nhanh chóng.

Ông P. từng mua xác rắn hổ mây vàng ngâm rượu với giá 3 triệu đồng. Con rắn hổ mây còn nhỏ, nặng khoảng 6kg bị ông T. và bầy chó săn Phú Quốc phục kích ngay khu vực suối Tranh. Trước khi bị hạ gục, con rắn hung hăng kháng cự khiến hai con chó săn bị trúng độc vong mạng.

Ông N. thì dè dặt cho biết, không biết máu rắn hổ mây có trị được bệnh ung thư hay không nhưng công dụng khác như trị nhức mỏi, bổ dưỡng thì có thể vì rắn hổ mây cũng là loài rắn hổ.

Theo ông, giá rắn hổ mây hiện nay từ 800.000 - 1.500.000 đ/kg nhưng chuyện buôn bán âm thầm không ồn ào như lúc trước, vì cả người mua và bán loài rắn đang có nguy cơ tuyệt chủng này sợ bị pháp luật sờ gáy.

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

Hết voi, có còn là Đắk Lắk không?

Hết voi, có còn là Đắk Lắk không?

Sáng 30/9/2011 tại Thư viện Quốc gia Việt Nam đã diễn ra buổi Tọa đàm và triển lãm hình ảnh mang tên “ Làm sao để bảo tồn loài voi ở Việt Nam khỏi nguy cơ tuyệt chủng”.Chương trình nhằm kêu gọi, và tìm hướng đi cho vấn đề bảo tồn loài voi đang ngày một cạn kiệt tại Việt Nam. Dưới sự điều hành của Nhà sử học Dương Trung Quốc, buổi tọa đàm đã diễn ra trong không khí cởi mở với rất nhiều ý kiến đóng góp xây dựng của những bên liên quan cũng như của các cơ quan báo chí, phương tiện thông tin đại chúng.

Đồng thời, trong buổi tọa đàm này, ban tổ chức cũng giới thiệu cũng sách bưu ảnh: “Những người bạn lớn” (The Giant friend) ghi lại những hình ảnh, lý lịch, đặc điểm, số phận của 51 con voi nhà (trong tổng số 52 con hiện đang sống) tại tỉnh Đắk Lắk, thủ phủ của đàn voi nhà Việt Nam bên cạnh khẩu hiệu của buổi tọa đàm: “Đừng để voi chỉ là ký ức”.

Cuốn sách ảnh "Những người bạn lớn" được giới thiệu trong buổi tọa đàm.

Voi nhà “tụt dốc không phanh”

Theo bảng thống kê của Sở Nông nghiệp, phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk, từ năm 1985 đến nay, số lượng voi đã giảm đên 9/10. Nếu như năm 1985 là hơn 500 con thì tính đến năm 2011, số lượng đàn voi nhà chỉ là 52 con. 52 con voi này cũng đang nằm trong tình trạng “báo động đỏ” khi luôn bị rình rập bởi bọn lâm tặc luôn tìm cách chặt đuôi, cưa ngà, nhổ trộm lông thậm chí bắt và giết để kiếm lời.

Phát biểu trong buổi tọa đàm, nhà sử học Dương Trung Quốc nhấn mạnh: “Nếu chúng ta không có giải pháp kịp thời thì voi chỉ còn trong kí ức. Voi không chỉ là động vật hoang dã mà những ký ức về voi là một phần lịch sử dân tộc, nó đồng hành với người Việt trong sự nghiệp bảo vệ đất nước. Không ai nói Bà Trưng, Bà Triệu, Quang Trung Nguyễn Huệ cưỡi ngựa ra trận mà họ đều cưỡi voi. Nếu ý thức được điều đó thì chúng ta cần hành động…Ở nhiều nước, họ biết bảo tồn voi, còn ở ta công việc này hầu như bị bỏ mặc hoặc thực thi với quá ít hiệu quả. Cái đó cực kỳ nguy hiểm”.

Đắng cay, chủ voi cũng giết voi

Có hàng trăm cách để có giết voi hoặc tàn sát. Nhà báo Doãn Hoàng, người theo sát chương trình đã nêu ra những ví dụ rất cụ thể để báo động tình trạng săn voi ngày càng lan rộng. Có voi bị chém  217 nhát, kẻ xấu thi nhau đến ăn cướp xác voi, mà sự việc này diễn ra tại chính Buôn Đôn, có con bị dùng kích điện, búa tạ để giết trộm (tỉnh Lâm Đồng).
 
Hay đắng cay hơn, chính chủ voi đã giết đi con voi của mình, dựng hiện trường giả, lên cơ quan chức năng trình báo nói voi nhà mình bị giết hại để nhằm xin lại xác voi, bán đi lấy lời (xảy ra ở Đà Lạt). Xảy ra những vụ kiểu thích voi chết hơn voi sống vì chi phí để nuôi, chăm sóc một chú voi sống quá tốn kém, một ngày chi phí ăn uống cho voi sống bằng 1/10 trọng lượng cơ thể của chúng.
 
Anh Đàn Năng Long bên con voi Beckham ( phải) trước khi bị kẻ xấu chặt đuôi, đập vỡ hộp sọ để lấy cặp ngà. Ảnh chụp năm 2009 ( Nguồn: Tuoitre)

Anh Đàn Năng Long, người có đàn voi lớn nhất Đắk Lắk cũng chua chát kể lại những vụ thủ phạm nhẫn tâm giết chết những con voi trong đàn voi nhà anh bằng cách chặt đuôi, đập vỡ hộp sọ để lấy cặp ngà.

Ở ngay khách sạn Thành Công, nằm trên phố Lý Thường Kiệt, một con phố chính của thành phố Đắk Lắk đã trưng bày và bán không biết bao nhiêu những hiện vật được lấy từ voi. Nào là ngà voi, răng voi, ví da voi, nhẫn lông voi… Chúng ta đang kêu gọi bảo vệ, cứu lấy loài voi thì ở ngay “thủ phủ” voi lại có những tình trạng này xảy ra! Một điều thực sự đáng lên án.

Đừng để voi chỉ là ký ức

Tồn tại những vấn đề là thế, nhưng điều quan trọng là chúng ta sẽ hành động những gì để có thể bảo tồn, phát triển đàn voi Việt Nam đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng khi mà ở Việt Nam chưa có một cơ quan chức năng nào đứng ra làm việc này!
 
Ông Nguyễn Văn Xuân, Phó giám đốc sở Nông nghiệp, Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk nêu ra một thực trạng đáng buồn về đàn voi đang ngày càng cạn kiệt tại tỉnh nhà và làm sao để nâng cao trình độ văn hóa người dân bản địa, nói không với các sản phẩm làm từ voi!
 
Bên cạnh đó, việc thành lập trung tâm bảo tồn voi, đào tạo nguồn nhân lực, con người, tạo hệ sinh thái phù hợp để phát triển việc sinh đẻ của voi nhà, hỗ trợ kinh phí nuôi voi cho chủ voi cái là điều đáng được quan tâm. Phương pháp thụ tinh nhân tạo cũng nên được áp dụng để phát triển đàn voi nhà, kiến nghị Chính phủ xem xét, can thiệp, giúp đỡ trong việc bảo tồn đàn voi.

“Rừng ở Đắk Lắk đang ngày càng cạn kiệt, Đắk Lắk hết rừng, hết cả voi thì còn gọi gì là Đắk Lắk không? Chúng ta cần một quy trình thích hợp, không chồng chéo lên nhau để bảo vệ đàn voi nhà” - Nhà sử học Dương Trung Quốc nhấn mạnh.

Nhưng một điều quan trọng nhất, là yếu tố tiên quyết để giúp đỡ đàn voi chính là những hành động của chúng ta: "Đừng để voi chỉ là ký ức".

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2011

Sóc đỏ sắp tuyệt chủng

Sóc đỏ sắp tuyệt chủng

Theo một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Anh, Sóc đỏ sẽ tuyệt chủng trong vòng 20 năm nữa.

Sóc đỏ sẽ tuyệt chủng trong vòng 20 năm tới

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học tại ĐH Oxford, số lượng Sóc đỏ đã giảm hơn 50% trong vòng 50 năm qua do sự phát triển mạnh mẽ của đô thị, nỗ lực bảo tồn của chính phủ thất bại và cuộc chiến giữa Sóc đỏ với Sóc Xám và chỉ 20 năm nữa chúng ta sẽ không còn được nhìn thấy chúng.

Sóc đỏ hay còn gọi là Sóc Á-Âu là động vật ăn tạp, sống trên cây, thuộc chi Sciurus. Sóc có chiều dài cơ thể từ 19-23cm, nặng khoảng 250-340g.

Ngoài Sóc đỏ, Nhím Âu, Chuột nưa sóc, thỏ rừng, mèo rừng cũng nằm trong danh sách bị đe dọa trong đó số lượng cá thể Nhím Âu đang sụt giảm nghiêm trọng từ 30 triệu cá thể những năm 1950 nay còn 15 triệu, theo báo cáo của Hiệp Hội bảo tồn Động vật Hoang dã của trường ĐH Oxford.

Mặc dù nhiều động vật có vú của Anh đã giảm đáng kể trong 25 năm qua song một số loài khác đã ổn định thậm chí còn tăng lên trong thập kỷ qua như chuột đồng, rái cá...

Sinh vật bị tận diệt do hạn hán

Sinh vật bị tận diệt do hạn hán

Bang Texas, Mỹ đang phải trải qua tình trạng hạn hán tồi tệ nhất trong lịch sử. Cây cối thiếu nước nghiêm trọng đang chết dần chết mòn, cháy rừng liên tục xuất hiện tại các khu vực như đầm lầy còn động vật thì không có đủ cỏ để ăn.

Các bức ảnh được chụp lại bởi Ban quản lý Công viên và Động vật hoang dã bang Texas (TPWD) cho thấy tình trạng hạn hán vô cùng nghiêm trọng.

Cả khu vực hồ phía Tây Texas đã biến thành màu đỏ như máu. Hồ O.C. Fisher cạn khô đến mức các loài cá tại đây đều bị chết do thiếu ôxy và vi khuẩn khiến nhiều vũng nước còn sót lại bị chuyển sang màu đỏ. Mức oxy của hồ Fairfield ở miền Đông Texas gần đây cũng giảm xuống rất thấp làm cho hơn 170.000 con cá bị chết, Steve Lightfoot – phát ngôn viên của TPWD nói.

Một con bò bị chết khô trong đợt hạn hán năm nay ở Texas. (Ảnh: Earl Nottingham)

Cơ quan theo dõi hạn hán Hoa Kỳ (U.S Drought Monitor) cho biết khoảng 85% diện tích bang Texas phải chịu hạn hán bởi sự xuất hiện của chu kỳ La Nina, John Nielsen-Gammon, nhà khí hậu học bang Texas phát biểu trên LiveScience. Tình trạng này là kết quả của sự nóng lên toàn cầu.

La Nina có thể xuất hiện ở Thái Bình Dương, báo trước một mùa đông khô và hạn hán kéo dài trong nhiều năm ở Texas. Một trận mưa nhiệt đới hoặc bão lớn sẽ cứu vãn được tình trạng này nhưng cơ hội đó không nhiều. Theo các nhà khoa học, tỷ lệ đó sau ngày 24/9 chỉ là khoảng 1/50.

Số lượng động vật hoang dã sinh sống trên địa phận thuộc bang Texas đang suy giảm đáng kể trong năm nay, đặc biệt là loài hươu Texas, do nguồn thức ăn của chúng đã bị khô héo hết. Điều đáng lo ngại hơn là các loài chim di cư đi qua Texas bắt đầu vào tháng 9 và kéo dài vào cuối mùa thu nhiều khả năng sẽ phải đi tìm nơi khác vì không có đủ nước cho chúng.

Trong khi đó, thời tiết khô và nhiệt độ cực cao trong mùa hè này là một trong những nguyên nhân gây nên những vụ hỏa hoạn trên toàn bang. Lửa đã đốt cháy hơn 3,5 triệu mẫu rừng và đồng cỏ của Texas cùng hơn 1000 ngôi nhà trong năm nay.

Tại Texas, toàn bộ hệ sinh thái từ các loài côn trùng nhỏ đến các loài động vật ăn thịt lớn hiện đang nỗ lực để sống sót qua giai đoạn này. Hạn hán đang tạo nên tác động dây chuyền đến tất cả các sinh vật tại Texas. Tác động của hạn hán sẽ còn lan sang các bang và qua biên giới nước khác do Texas là một bang lớn với hệ sinh thái đa dạng. Tác động này còn kéo dài trong nhiều năm sau khi hạn hán kết thúc, các nhà nghiên cứu chia sẻ thêm.

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

Tê giác tại Việt Nam đã tuyệt chủng?

Tê giác tại Việt Nam đã tuyệt chủng?

Đây có thể là một tin sốc mà Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên sẽ công bố chính thức vào tháng 10 tới.

Dấu vết cuối cùng

Trải qua 20 năm sau ngày chính thức công bố tê giác tồn tại ở Cát Tiên, đến nay không ai dám khẳng định chắc chắn rằng tê giác còn hay mất. Điểm chung của tất cả những người quan tâm đến loài vật này là nỗi lo sợ đến một ngày tê giác chính thức bị tuyệt chủng tại Việt Nam.

Đừng để thế hệ trẻ biết đến tê giác qua những bộ xương mẫu vật.

Những thông tin gần đây cho thấy điều đó ngày càng có cơ sở, bởi hơn 1 năm rưỡi qua không có bất cứ dấu vết nào của tê giác được tìm thấy. Sau nhiều tháng truy tìm không có tung tích tê giác, tháng 4.2010, đội tuần tra tê giác Vườn quốc gia (VQG) Cát Tiên phát hiện xác chết của một cá thể.

"Tất cả cán bộ VQG hết sức buồn bã, mất ăn mất ngủ. Chúng tôi tiếc mình không phát hiện nó sớm hơn, biết đâu đã cứu được con vật quý giá", anh Nguyễn Huỳnh Thuật, cán bộ VQG, một trong những người tìm ra xác tê giác cho biết.

Kết luận của các Viện Nghiên cứu khắp cả nước đều có nhận định chung là con tê giác này có thể đã chết do thợ săn. Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF) đã gửi mẫu vật ra nước ngoài nghiên cứu. 

Phòng thí nghiệm của WWF cho rằng con vật có thể chết vì quá căng thẳng. Vết thương ở chân sau chỉ là một phần nguyên nhân.

"Dù nguyên nhân cái chết như thế nào đi chăng nữa thì đó cũng là dấu vết sau cùng mà chúng tôi có được. Các đội tuần tra tê giác vẫn liên tục hoạt động, cả đặt bẫy ảnh nhưng tín hiệu của tê giác vẫn bặt tăm" - ông Trần Văn Thành - Giám đốc VQG Cát Tiên lo lắng.

Vì sao nên nỗi?

Theo thông tin chúng tôi có được từ WWF Việt Nam thì cơ hội để tìm thấy các cá thể tê giác ở VQG Cát Tiên gần như không còn. Theo đó, WWF đang hoàn tất, củng cố hồ sơ cuối cùng để tổ chức họp báo nói rõ về số phận tê giác tại Việt Nam trong tháng 10 tới. Ông Lưu Mạnh Hào - Hạt phó Hạt Kiểm lâm Cát Tiên cho biết, lực lượng kiểm lâm quá mỏng, sức hút của tê giác lại quá lớn, nên các đối tượng xấu liên tục tấn công. Mỗi năm, Hạt thu được hàng trăm súng săn các loại, bắt hàng chục đối tượng xâm nhập rừng trái phép để đi tìm tê giác.
 
Theo Giáo sư Đặng Huy Huỳnh - Chủ tịch Hội Động vật học Việt Nam, tê giác là loài vật kiếm ăn, uống nước rất chọn lọc. Nguồn nước uống của nó phải có chất khoáng, tuy nhiên khu vực này đã bị thu hẹp rất lớn khi con người mở rộng phạm vi sinh sống. Gần đây có một dự án thủy điện đang chuẩn bị xây dựng, nếu vậy, nguồn nước khoáng cho tê giác sẽ chính thức bị xóa sổ.

Hy vọng mong manh

Những cuộc tìm kiếm tê giác trong tự nhiên tại VQG Cát Tiên vẫn tiếp diễn. Họ tin rằng ở đâu đó trong những cánh rừng già vẫn còn những cá thể, thậm chí quần thể tê giác đang sinh sống nhưng chưa thấy. 

Bảo vệ ý kiến của mình, Giáo sư Đặng Huy Huỳnh cho hay những hình ảnh tư liệu ghi lại từ năm 2002 - 2005 chứng tỏ có 1 quần thể lớn.

Trong số đó có 2 con non nên không thể vì trong một thời gian ngắn mất dấu đã vội đưa ra kết luận tuyệt chủng. "Tê giác sống tại Cát Tiên hàng trăm năm mà đến tận năm 1991 mới được phát hiện, điều này chứng tỏ chúng ẩn mình rất giỏi" - GS Huỳnh nhận định.

Đội tuần tra tê giác tại VQG Cát Tiên cũng hoạt động hết công suất. Mỗi tháng hai chuyến tuần tra rừng được tiến hành, đội này trở về đội khác ngay lập tức lên đường. Tất cả đều cùng hy vọng tê giác vẫn còn để tiến hành công tác bảo tồn, gìn giữ cho những thế hệ con cháu mai sau.

Triển lãm bảo vệ động vật hoang dã

Triển lãm bảo vệ động vật hoang dã


Hai triển lãm nhằm kêu gọi người dân Việt Nam tham gia chống nạn buôn bán động vật hoang dã được tổ chức tại TP HCM hôm nay và Hà Nội ngày mai.

Một con culi bị bán tại một chợ ở Hà Nội. (Ảnh: WCS)

Hai cuộc triễn lãm tại công viên Gia Định, TP HCM, và công viên Hòa Bình, Hà Nội, nằm trong chuỗi các hoạt động thường kỳ được tổ chức tại các khu vực đô thị ở Việt Nam trong năm nay. Triển lãm khuyến khích người dân tìm hiểu về thực trạng của các loài động vật đang bị nguy cấp và cung cấp những cách thức hữu ích để bảo vệ chúng.

Người tham dự có thể xem phim về tình trạng nguy cấp của các loài động vật hoang dã tại Việt Nam và tham gia trả lời những câu hỏi trắc nghiệm về các vấn đề được nêu ra trong các bảng thông tin. Ngoài ra, họ có thể chia sẻ ý kiến về các chủ đề như gây nuôi động vật hoang dã và sử dụng thuốc cổ truyền làm từ động vật hoang dã, bên cạnh hoạt động nâng cao nhận thức khác.

Hai triển lãm cũng khuyến khích người xem tham gia Mạng lưới Tình nguyện viên bảo vệ động vật hoang dã hiện gồm 3.000 thành viên trên cả nước. Mạng lưới cho phép người dân hỗ trợ trong việc báo cáo và giám sát các trường hợp vi phạm liên quan đến động vật hoang dã.

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

Chim nguyên thủy có chung số phận với khủng long

Chim nguyên thủy có chung số phận với khủng long

Một nghiên cứu mới đây đã đặt dấu chấm hết cho cuộc tranh luận lâu đời về các loài chim cổ xưa đã tuyệt chủng như thế nào, nghiên cứu đã cho thấy chúng đã hầu như bị xóa sổ bởi các tác động của thiên thạch đồng thời chấm dứt số phận loài khủng long vào 65 triệu năm trước đây.

Trong nhiều thập kỷ, các nhà khoa học đã tranh luận rằng: liệu các loài chim từ kỷ Phấn Trắng- rất khác so với loài chim hiện đại, đã chết một cách từ từ hay bị giết chết một cách đột ngột bởi các thiên thạch. Tranh luận này xuất phát một phần từ thực tế rằng có rất ít hóa thạch của các loài chim ở cuối kỷ này được phát hiện.

Giờ đây, một nhóm các nhà sinh vật cổ học dẫn đầu bởi nhà nghiên cứu Nicholas Longrich thuộc đại học Yale đã cung cấp bằng chứng rõ ràng rằng nhiều loài chim nguyên thủy sống sót cho đến thời điểm chịu tác động của thiên thạch. Họ đã nhận dạng và xác định thời gian của bộ sưu tập lớn với các hóa thạch chim đại diện cho một loạt các loài khác nhau, trong số đó vẫn còn nhiều loài sống trong vòng 300.000 năm với tác động của thiên thạch.

Longrich cho biết: "Điều này chứng tỏ rằng nhiều loài đã bị tuyệt chủng hết sức đột ngột, trong thời gian biến đổi địa chất". Nghiên cứu này được công bố trong tuần từ ngày 19/9 trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Science.

Nhóm nghiên cứu đã kiểm tra bộ sưu tập lớn của gần 24 hóa thạch chim phát hiện ở Bắc Mỹ - đại diện cho các loài tồn tại trong kỷ Phấn trắng - từ các bộ sưu tập của Bảo tàng lịch sử tự nhiên thuộc Yale Peabody, các Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ, Đại học thuộc Bảo tàng sinh vật học cổ học California và Bảo tàng Hoàng gia Saskatchewan. Mẫu chim hóa thạch từ kỷ Phấn trắng là cực kỳ hiếm, Longrich cho biết, do xương chim rất nhỏ và mong manh nên dễ dàng bị hư hỏng hoặc cuốn trôi trong dòng suối.

Các xương từ 17 loài chim đã tuyệt chủng thuộc kỷ Phấn trắng trong cùng khoảng thời gian với 
khủng long. Hai xương bên trái là xương chân và phần còn lại là xương vai. (Nguồn: Sciencedaily.com)

"Những loài chim được phát hiện đã không được nghiên cứu một cách thực sự nghiêm túc", Longrich nói. "Chúng tôi đã xem xét chi tiết hơn nữa các mối quan hệ giữa các xương và các loài chim hơn bất cứ ai đã làm trước đây”.

Longrich tin rằng một phần nhỏ của các loài chim kỷ Phấn trắng sống sót sau tác động của thiên thạch đã duy trì và làm phong phú các loài chim ngày nay. Những loài chim ông đã kiểm tra cho thấy sự đa dạng hơn nhiều những gì chưa được nhìn thấy ở các loài chim từ cuối kỷ Phấn Trắng, kích thước của chim sáo đá có thể bằng một con ngỗng nhỏ. Một số có mỏ dài đầy răng.

Tuy nhiên, các loài chim hiện đại vẫn rất khác những loài tồn tại trong suốt cuối kỷ Phấn trắng, Longrich nói. Ví dụ, loài chim ngày nay đã phát triển trên một phạm vi rộng lớn với nhiều tính năng chuyên trách và tập quán sống, từ chim cánh cụt, chim ruồi đến chim hồng hạc, trong khi các loài chim nguyên thủy chỉ chiếm một phạm vi hẹp trong hệ sinh thái.

"Các phác họa cơ bản đã được tiến hành, tất cả các tính năng chuyên trách chủ yếu phát triển sau khi tuyệt chủng hàng loạt, khi các loài chim tái phát triển với sự đa dạng của ngày nay", Longrich nói. "Nó tương tự như những gì đã xảy ra với động vật có vú sau thời kỳ của khủng long”.

Longrich cho biết thêm, nghiên cứu này không phải là tiên phong cho thấy loài chim cổ xưa tuyệt chủng một cách đột ngột. "Có những bằng chứng cho rằng những loài chim này đã bị quét sạch cùng một lúc như những con khủng long", Longrich nói. "Nhưng bằng chứng mới có tác dụng quyết định, chấm dứt các cuộc tranh luận”.

Phát hiện 12 loài ếch mới ở Ấn Độ

Phát hiện 12 loài ếch mới ở Ấn Độ

Các nhà động vật học vừa phát hiện ra 12 loài ếch đêm ở rừng mưa nhiệt đới thuộc rặng núi Western Ghats của Ấn Độ, trong đó có những loài từng mất tích mấy chục năm.

Nhóm các nhà nghiên cứu từ đại học Delhi, khảo sát động vật học của Ấn Độ và đại học Vrije của Bỉ tìm thấy 12 loài ếch thuộc chi Nyctibatrachus, theo thông tin từ tờ Thời Báo điện tử Ấn Độ.


Ông S.D. Biju Das, phòng thí nghiệm hệ sinh thái học của Đại học Delhi, cho biết: “Loài ếch đêm thường sống nơi có dòng chảy nhanh hoặc rừng ẩm ướt. Nó cũng là nhóm ếch duy nhất có thể thụ tinh và sinh sản mà không cần có mối liên hệ về thân thể”.


"Đáng ngạc nhiên loài ếch này sống cùng với khủng long đã biến mất nhưng chúng vẫn tồn tại. Tuy nhiên, nếu tiếp tục xu hướng như hiện nay, sự tồn tại của loài ếch mới được tìm thấy có thể biến mất vĩnh viễn", ông S.D. Biju Das nói thêm.



Ông cũng cảnh báo, trong số những loài trên, 6 loài đang sống trong môi trường không an toàn, cần có kế hoạch bảo tồn chúng.



Bên cạnh 12 loài ếch mới, các nhà khoa học còn thấy 3 loài ếch khác mà họ cho là đã tuyệt chủng từ rất lâu. Đó là loài ếch đêm Coorg không được nhìn thấy trong 91 năm, ếch đêm Kempholey và ếch đêm sylvaticus đã bị mất tích 75 năm.